Giám Đốc Tài Chính | Tạp Chí Giám Đốc Tài Chính

Switch to desktop Register Login

Giám Đốc Tài Chính | Đào tạo Giám Đốc Tài Chính | CFO

Bất cập trong lập báo cáo tài chínhSự hình thành và phát triển của các công ty chứng khoán ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời và tiến trình hoạt động của thị trường chứng khoán

Read more...

Phương pháp NEtNETTrong tác phẩm “The Intelligent Investor”, Graham có giới thiệu khái niệm Net-Current-Asset Stock – đây là các cổ phiếu có giá trị tài sản ròng nhỏ hơn market price. Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là nếu công ty mà bạn mua bị đóng cửa hoặc giải thể thì bạn vẫn có lời sau khi đã bán tất cả tài ngắn hạn để trả nợ. Phần tài sản dài hạn hoàn toàn chưa tính đến. Triết lý của phương pháp này chính là “mua công ty xấu với giá cực rẻ”

Read more...

CFO làm gì thời khủng hoảngGiám đốc tài chính (CFO) hiện nay đang phải gánh vác trách nhiệm ngày càng nặng nề trong giai đoạn kinh tế không ổn định, các chính sách ngày càng nhiều và siết chặt, các nhà đầu tư mất niềm tin.

Đứng yên tại chỗ không phải là lựa chọn đúng đắn cho các chuyên gia tài chính trong môi trường kinh doanh đầy biến động cũng như cơ hội. Do đó, vai trò và khả năng chuyên môn theo quan niệm truyền thống là không đủ và cần phải thay đổi. Kết quả nghiên cứu từ ICPAS (*) đã ghi nhận

Read more...

tại sao cfo khó trở thành ceoCác giám đốc tài chính (CFO) hiếm khi được chuyển trực tiếp sang vị trí giám đốc điều hành (CEO) và thiếu kinh nghiệm vận hành là thủ phạm chính. Một phân tích của hãng Korn Ferry năm 2015 về các CEO trong danh sách Forbes 2000 toàn cầu chỉ ra rằng chỉ 13% số CEO này được chuyển từ vai trò CFO trong một công ty.

Việc chuyển sang một vị trí quản lý hoạt động được xem là bước chuyển trung gian phổ biến với nhiều CFO trong tiến trình vươn lên vị trí đứng đầu.

Read more...

100 ngày đầu tiên của giám đốc tài chínhCác giám đốc tài chính trên toàn thế giới mô tả 100 ngày đầu tiên về công việc của họ là khoảng thời gian nhận được sự hướng dẫn nhiều nhất, nhưng cũng có nhiều khó khăn khi thời gian không đủ cho những ưu tiên hàng đầu của họ.
 
Theo như một nghiên cứu của McKinsey về các CFO thì những giám đốc tài chính mới có thể không muốn bị lãng phí thời gian, vì vậy họ thường sử dụng 100 ngày đầu tiên để lên báo cáo ngân sách, quản lý và tài chính. Sở dĩ như vậy là do họ nghĩ rằng những hoạt động chủ yếu trong suốt thời gian đó sẽ giúp cho họ hiểu được những định hướng về kinh doanh, tiếp cận được với chiến lược tổng thế, và xây dựng được đội tài chính.

Read more...

Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán.
Chứng từ cần phải chứa đựng 7 nội dung chủ yếu bắt buộc sau đây:

- Tên gọi và số hiệu của chứng từ kế toán.

- Ngày, tháng, năm lập chứng từ.

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán.

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán.

- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.

- Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền

của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ.

- Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ.

Ngoài 7 nội dung chủ yếu của chứng từ kế toán nêu trên, chứng từ kế toán có thể có thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ.

Bfinance

Read more...

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Read more...

Chi phí trả trước ngắn hạn (Short-term prepaid expense) là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng có liên quan tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Chi phí trả trước này chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh mà được tính vào hai hay nhiều kỳ kế toán tiếp theo.

Bfinance

Read more...

Chi phí sản xuất (Operation cost) là số tiền mà một nhà sản xuất hay doanh nghiệp phải chi để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến chi phí sản xuất, vì việc giảm chi phí sản xuất đồng nghĩa với tăng lợi nhuận.

Chi phí sản xuất chung (General operation cost ) bao gồm: Lương nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất; khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả của nhân viên phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất.

Riêng đối với hoạt động kinh doanh xây lắp, khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn còn tính trên cả lương của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội; khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất; chi phí đi vay nếu được vốn hoá tính vào giá trị tài sản đang trong quá trình sản xuất dở dang; chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.

Chi phí sản xuất chung có thể phân loại thành: Chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi.

- Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất.

- Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.

Bfinance

Read more...

Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí biểu hiện bằng tiền của các hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện công tác quản lý bao gồm: quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý khác.

Xét về mặt bản chất, đó là những chi phí phục vụ gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách bình thường. Đây là những chi phí tương đối ổn định.

Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các khoản sau:

- Chi phí nhân viên quản lý doanh nghiệp: gồm các khoản tiền lương và các khoản phụ cấp, ăn giữa ca phải trả cho lãnh đạo, cán bộ nhân viên các phòng ban và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.

- Chi phí vật liệu phục vụ cho quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho bộ phận quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí khấu hao TSCĐ phục vụ chung cho toàn doanh nghiệp như nhà văn phòng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị văn phòng...

- Thuế, phí, lệ phí như thuế môn bài, thuế nhà đất và các khoản phí khác.

- Chi phí dự phòng như dự phòng phải thu khó đòi.

- Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bộ phận quản lý doanh nghiệp như: chi phí điện, nước, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa TSCĐ, tiền thuê nhà làm văn phòng…

- Chi phí khác bằng tiền đã chi ra để phục vụ cho hoạt động quản lý doanh nghiệp như: chi phí tiếp khách cho bộ phận quản lý doanh nghiệp, chi phí tổ chức hội nghị, hội họp, công tác phí, chi phí kiểm toán…

Bfinance

Read more...