Giám Đốc Tài Chính | Tạp Chí Giám Đốc Tài Chính

Switch to desktop Register Login

Giám Đốc Tài Chính | Đào tạo Giám Đốc Tài Chính | CFO

Chi phí phải trả (Payable cost) phản ánh các khoản được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa chi trả trong kỳ kế toán. Chi phí phải trả chủ yếu bao gồm các loại chi phí sau:
- Trích trước chi phí tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép.

- Chi phí sữa chữa lớn của tài sản cố định.

- Chi phí trong thời gian doanh nghiệp ngừng sản xuất theo mùa vụ.

- Trích trước chi phí tiền lãi vay phải trả trong trường hợp vay trả lãi sau, lãi trái phiếu trả sau ( khi trái phiếu đáo hạn ).

Khi sử dụng tài khoản này để hạch toán các khoản chi phí phải trả vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thì phải theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ kế toán.

Bfinance

Read more...

Chi phí nhân công trực tiếp ( Direct labor cost) là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ...).
Ngoài ra, còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.

Không được tính vào chi phí nhân công trực tiếp các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp.

Bfinance

Read more...

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( Direct material cost) là tổng các khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả để có được các nguyên liệu sau này sẽ trở thành một phần của những sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, hoặc liên quan trực tiếp tới các dịch vụ doanh nghiệp cung cấp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cũng được định nghĩa là giá trị thực tế của nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất ra thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.

Giá trị thực tế của nguyên vật liệu được tính theo giá gốc hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được.

Giá gốc (Original cost): Giá gốc là toàn bộ chi phí liên quan đến việc mua một tài sản. Giá gốc bao gồm các khoản như: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho/tài sản ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Giá trị thuần có thể thực hiện được (Net realizable value): Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.

Bfinance

Read more...

Trong kế toán, Chi phí khác là chi phí phát sinh ngoài dự kiến trong kinh doanh, không được xếp vào chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, hoặc chi phí quản lý và chi phí chung.
Đó là những chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt, bất thường với các hoạt động kế toán trong doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động như:

- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý và nhượng bán TSCĐ (nếu có);

- Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, TSCĐ đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác;

- Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế;

- Bị phạt thuế, truy nộp thuế;

- Các khoản chi phí khác.

Chênh lệch giữa Doanh thu khác và Chi phí khác hình thành nên Lợi nhuận (từ hoạt động) khác.

Bfinance

Read more...

Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được mục đích nào đó.

Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy lại được kết quả. Kết quả có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng, … hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ…

Khi phân loại chi phí theo dạng thức của chi phí, kế toán quản trị chia tổng chi phí thành ba loại: (1) Biến phí (Chi phí khả biến), (2) Định phí (Chi phí cố định/bất biến) và (3) Chi phí hỗn hợp.

Việc nhận định và thấu hiểu từng loại chi phí và hành vi của chúng trong sản xuất kinh doanh là chìa khóa của việc đưa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của các nhà quản lý.

Bfinance

Read more...

Trong kế toán, tài khoản Chênh lệch đánh giá lại tài sản (Difference upon asset revaluation) được dùng để phản ánh số chênh lệch do đánh giá lại tài sản hiện có và tình hình xử lý số chênh lệch đó của doanh nghiệp.
Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản. Việc đánh giá lại thường được thực hiện khi có quyết định của Nhà nước hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, thành lập công ty cổ phần…

Tài sản được đánh giá lại chủ yếu là tài sản cố định, bất động sản, vật tư, công cụ, dụng cụ, thành phẩm, hàng hóa, sản phẩm dở dang…

Bfinance

Read more...

Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành.

Bfinance

Read more...

Biến phí là những khoản mục chi phí mà tỷ lệ của nó trong tổng chi phí sản xuất ra một sản phẩm/dịch vụ sẽ thay đổi khi sản lượng thay đổi. Biến phí (chi phí khả biến) cùng với định phí (chi phí cố định) tạo thành tổng chi phí của doanh nghiệp.

Biến phí thường là các khoản chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp sản xuất hay thực hiện dịch vụ, giá vốn của hàng hóa mua vào để bán lại, chi phí bao bì đóng gói ban đầu, hoa hồng bán hàng, …

Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động, khi không có hoạt động thì biến phí bằng 0. Xét về tính chất hoạt động, biến phí được chia thành hai loại gồm biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc.

Bfinance

Read more...

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay Báo cáo dòng tiền mặt là một loại báo cáo tài chính thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính).
Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của tổ chức, doanh nghiệp.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của Báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp, vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả.

Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ thông thường gồm có:

Dòng tiền vào:

- Các khoản thanh toán của khách hàng cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ

- Lãi tiền gửi từ ngân hàng

- Lãi tiết kiệm và lợi tức đầu tư

- Đầu tư của cổ đông

Dòng tiền ra:

- Chi mua cổ phiếu, nguyên nhiên vật liệu thô ,hàng hóa để kinh doanh hoặc các công cụ

- Chi trả lương, tiền thuê và các chi phí hoạt động hàng ngày

- Chi mua tài sản cố định – máy tính cá nhân, máy móc, thiết bị văn phòng,…

- Chi trả lợi tức

- Chi trả thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và các thuế và phí khác.

Doanh nghiệp có thể lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo một hoặc cả hai phương pháp: Phương pháp trực tiếp (Direct method) và Phương pháp gián tiếp (Indirect method).

Tương ứng với mỗi phương pháp đều có mẫu báo cáo riêng, nhưng hai phương pháp này chỉ khác nhau ở phần lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.

Bfinance

Read more...

Bảng cân đối kế toán (Balance sheet) là một bảng Báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Điều này khác với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh trong một giai đoạn.
Bảng cân đối kế toán là một trong 4 báo cáo hình thành nên Báo cáo tài chính (gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính).

Kết cấu của Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần:

(1) Phần dùng để phản ánh kết cấu của vốn kinh doanh được gọi là Tài sản, bao gồm Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn.

(2) Phần dùng để phản ánh nguồn hình thành của tài sản được gọi là Nguồn vốn, bao gồm Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu.

Thứ tự sắp xếp các khoản mục: Các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo thứ tự mức độ thanh khoản (chuyển thành tiền) giảm dần từ cao đến thấp, với mức độ cao nhất là khoản mục Tiền và các khoản tương đương tiền. Các khoản mục nợ phải trả và nguồn vốn sắp theo thứ tự thời hạn thanh toán tăng dần từ ngắn hạn đến dài hạn.

Bảng cân đối kế toán phải thỏa mãn công thức: Tài sản = Nguồn vốn (Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu). Lý do là tất cả tài sản phải được giải thích cân đối về nguồn gốc vốn hình thành tài sản đó.

Bfinance

Read more...