Giám Đốc Tài Chính | Tạp Chí Giám Đốc Tài Chính

Switch to desktop Register Login

Áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho các doanh nghiệp niêm yết

Rate this item
(0 votes)

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) là một hệ thống bao gồm 08 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và 30 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành. Hệ thống này được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao.

Ở Việt Nam, đến nay đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên IAS/IFRS từ những năm 2000 đến 2005 theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực. Song hành với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế, công cụ kế toán và kiểm toán của Việt Nam đã được cải cách, hoàn thiện phù hợp. Tuy nhiên, các VAS mới là sự vận dụng đơn giản IAS/IFRS để phù hợp bối cảnh cụ thể của Việt Nam, chưa cập nhật theo những thay đổi của IAS/IFRS. So sánh sau sẽ cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa VAS với IAS/IFRS.

Sự khác biệt giữa VAS với IAS/IFRS đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính

VAS đã cơ bản tiếp cận với IAS/IFRS, phản ánh được phần lớn các giao dịch của nền kinh tế thị trường, nâng cao tính công khai, minh bạch thông tin về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, VAS hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm khác biệt với IAS/IFRS. Cụ thể:

Thứ nhất, VAS hạch toán theo nguyên tắc giá gốc, còn IAS/IFRS cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo nguyên tắc giá thị trường tại thời điểm báo cáo (giá trị hợp lý). Việc ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc đã ảnh hưởng lớn đến kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại của báo cáo tài chính. Có sự khác biệt này là do IAS/ IFRS được xây dựng để áp dụng cho các nền kinh tế phát triển, khi mà các yếu tố thị trường đã phát triển đồng bộ, có thị trường thuận lợi cho định giá các loại tài sản theo giá thị trường. Các yếu tố này chưa có được đầy đủ ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nên việc áp dụng nguyên văn bộ Chuẩn mực IAS/IFRS gặp không ít khó khăn. Hơn nữa, VAS với các ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn để phù hợp với với văn hoá của người Việt Nam.

Thứ hai, VAS 21 không quy định trình bày Báo cáo biến động vốn chủ sở hữu thành một báo cáo riêng biệt như IAS1, chủ yếu yêu cầu trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, chế độ kế toán Việt Nam quy định mẫu biểu báo cáo một cách cứng nhắc, làm triệt tiêu tính linh hoạt và đa dạng của hệ thống báo cáo tài chính, trong khi IAS/IFRS không đưa ra mẫu biểu cụ thể của báo cáo.

Việt Nam là quốc gia mà cơ sở, nguyên tắc kế toán được quy chiếu vào chế độ kế toán quốc gia. Theo đó, Nhà nước có vai trò kiểm soát kế toán, việc soạn thảo, ban hành các chuẩn mực kế toán và các hướng dẫn thực hiện phải do các cơ quan nhà nước thực hiện và được đặt trong các bộ luật hoặc các văn bản pháp lý dưới luật. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển IAS/IFRS, các cơ sở, nguyên tắc kế toán thường được thiết lập bởi các tổ chức tư nhân chuyên nghiệp; việc kiểm soát của Nhà nước được thực hiện thông qua việc giải thích mục tiêu, nguyên tắc kế toán, phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính. Điều đó cho phép chúng trở nên dễ thích ứng với thực tiễn và sáng tạo hơn. Chính vì điều này, các thông tin trên báo cáo tài chính chưa đạt chất lượng cao, không được người sử dụng ra các quyết định kinh tế.

Thứ ba, cũng theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế, khi các khoản lãi/lỗ bán cổ phiếu vốn không phải của hoạt động mang tính thường xuyên của doanh nghiệp lại được hiểu là kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu.

Như vậy, hiện đang tồn tại một khoảng cách giữa VAS với IAS/IFRS khi lập và trình bày báo cáo tài chính. Trong một chừng mực nào đó, rõ ràng những khác biệt này có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam.

Định hướng áp dụng IAS/IFRS hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam

Áp dụng IAS/IFRS trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính sẽ lại không ít lợi ích cho doanh nghiệp, như: Tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận.... Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS không mấy dễ dàng, nhất là đối doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam - một đất nước có nền kinh tế đang phát triển. Vì vậy, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập về kế toán nói riêng, đặc biệt là để các thông tin trên báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam có độ tin cậy cao với thị trường vốn nước ngoài, chế độ kế toán Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp định hướng như sau:

Thứ nhất, cần nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện, phương pháp vận dụng “nguyên tắc giá trị hợp lý”. Hiện nay, hệ thống kế toán của các quốc gia đang vận dụng nguyên tắc giá trị hợp lý của IAS/IFRS để lập báo cáo tài chính ngày càng nhiều. Sau khi áp dụng IAS/IFRS sẽ cải thiện tính minh bạch và mức độ tin cậy về thông tin của các doanh nghiệp niêm yết và thị trường chứng khoán. Điều này sẽ gia tăng niềm tin trong giới đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, do đó việc áp dụng IAS/ IFRS trong lập và trình bày báo cáo tài chính là điều tất yếu đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Thứ hai, khẩn trương đánh giá, sửa đổi, bổ sung cập nhật 26 chuẩn mực đã ban hành cho phù hợp với những thay đổi của IAS/IFRS và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Trước mắt, cần bổ sung các quy định riêng về áp dụng IAS/IFRS cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Thứ ba, nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, cần sớm ban hành thêm các chuẩn mực kế toán liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh trong đời sống kinh tế cho phù hợp với IAS/IFRS như: Tìm kiếm, thăm dò và xác định giá trị các nguồn tài nguyên khoáng sản (IFRS 06); Tổn thất tài sản (IAS 36)…. Đây sẽ là các định hướng mang tính cấp bách cho việc lập báo cáo tài chính của các công ty hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù này; Giúp các doanh nghiệp này củng cố vị thế của mình, thu hút vốn đầu tư để đủ sức tham gia vào sân chơi mang tính toàn cầu.

Thứ tư, Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp phù hợp với yêu cầu của IAS/IFRS.

Tác giả: ThS. LÊ THỊ THU HƯƠNG - Đại học Công Nghiệp Hà Nội 

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Tài chính, 26 chuẩn mực kế toán đã ban hành từ năm 2001 đến 2005;
  2. Nguyễn Thị Kim Cúc, Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp nhằm phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2009;
  3. Trần Xuân Nam, Chuẩnmực báo cáo tài chính quốc tế: Việt Nam và sự khác biệt;
  4. Phan Đức Dũng, “ Sự khác biệt giữa phương pháp vốn chủ sở hữu và phương pháp giá gốc đối với các khoản đầu tư vào công ty liên kết”- Tạp chí kế toán số 53 tháng 04/2005.
Last modified on
CLEVERCFO EDUCATION

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Tạp Chí Giám Đốc Tài Chính. Vui lòng để lại câu hỏi/ ý kiến tại khung bên dưới.

Nếu bạn quan tâm đến các khóa đào tạo chuyên sâu về tài chính. Vui lòng tham khảo tại: Khóa học Giám Đốc Tài Chính